Showing posts with label KHOA HỌC. Show all posts
Showing posts with label KHOA HỌC. Show all posts

Article Structure – Cấu trúc một bài báo khoa học

Article Structure – Cấu trúc một bài báo khoa học
Điều đầu tiên phải khẳng định là không có một cấu trúc hoàn hảo cho một bài báo khoa học viết bằng tiếng Anh. Các tạp chí có thể có những quy định về format khác nhau cho bản thảo (manuscript) gửi cho tạp chí đó. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày một cấu trúc chung nhất với mong muốn có thể giúp những bạn bắt đầu viết bài báo khoa học triển khai công việc được dễ dàng hơn. Tuy nhiên, các bạn cần luôn lưu ý là phải tìm hiểu kỹ format bài viết của tạp chí định gửi bài để không bị “rớt ngay vòng gửi xe”.
Một cấu trúc bài báo dễ nhớ là IMRAD (phát âm kiểu [aiemrad]) được viết tắt từ 4 phần chính của một bài báo:

Introduction (Đặt vấn đề/Mở đầu)
Methods (Phương pháp nghiên cứu)
Results (Kết quả nghiên cứu)
And (và – chỉ đưa vào làm từ nối; không có trong bài viết)
Discussion (Thảo luận)
Tất nhiên với một bài viết hoàn chỉnh thì trước IMRAD phải có các phần: Title (tiêu đề), Abstract (tóm tắt) và Keywords (từ khóa). Sau IMRAD còn có: Conclusion (kết luận), Acknowledgements (lời cảm ơn – nếu có), References (tài liệu tham khảo) và Appendix (phụ lục – nếu có).
Cụ thể với một bài báo có độ dài 4000-8000 từ (hoặc 15-25 trang A4), cấu trúc được tổng hợp trong bảng dưới đây:
(1) Title (Tiêu đề) - Mục đích thu hút sự quan tâm của người đọc - độ dài: 8-15 từ
(2) Abstract (Tóm tắt) - Mục đích tóm tắt nội dung của bài báo (Abstract được coi là phiên bản thu nhỏ của bài báo) - độ dài: 150-250 từ
(3) Introduction (Đặt vấn đề) - Mục đích trình bày tầm quan trọng và mục đích của nghiên cứu - độ dài: 500-1000 từ
(4) Literature Review (Nghiên cứu tổng thuật) - Mục đích tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trước đây liên quan đến các nội dung chính của bài viết - độ dài: 1000-2000 từ
(5) Methods (Phương pháp nghiên cứu) - Mục đích trình bày các phương pháp đã thực hiện để có kết quả cho bài viết này - độ dài: 500-1000 từ
(6) Results (Kết quả nghiên cứu) - Mục đích trình bày những số liệu, thông tin bạn đã tìm hiểu, khám phá, thu thập và phân tích được - độ dài: 500-1500 từ
(7) Discussion (Thảo luận) - Mục đích phân tích mối liên hệ giữa các số liệu, thông tin thu thập được đặt trong bối cảnh với các nghiên cứu trước đây - độ dài: 1000-1500 từ
(8) Conclusion (Kết luận) - Mục đích tóm tắt kết quả nghiên cứu quan trọng, ứng dụng của nghiên cứu và tầm quan trọng của nghiên cứu - độ dài: 500-1000 từ
Một số bài viết có thể có thêm phần Background (Bối cảnh nghiên cứu) để ngay sau phần Introduction và phần Conceptual Framework (Khung khái niệm) để trước hoặc sau phần Methods.
Như đã trình bày ở trên, đây chỉ là một cấu trúc phổ biến của một bài báo khoa học. Các bạn cần check thông tin cụ thể trong mục Guides for Authors của tạp chí dự định gửi bài để chuẩn bị bản thảo đúng với yêu cầu của tạp chí.
(Bài viết được tổng hợp từ các thông tin của Elsevier, Writing Your Article in 12 Weeks, W. L. Belcher và kinh nghiệm cá nhân)
Trích nguồn: https://www.facebook.com/congbo.quocte.58

Những người đặc biệt đang làm việc trên vũ trụ


Trên trái đất của chúng ta hiện nay có hơn 7 tỉ người, và hàng ngày chúng ta vẫn đang tiếp tục nỗ lực để chinh phục ra những miền đất xa hơn ngoài vũ trụ.
Bạn có biết rằng trên vũ trụ hiện tại có bao nhiêu người? Và họ là ai? Câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất là 6, họ là một phi hành đoàn với các phi hành gia xuất sắc nhất.

1. Alexander Misurkin




Đây là một phi hành gia của Nga, hiện tại tính cho tới ngày 5/9/2013 anh đã ở trên vũ trụ được 161 ngày. Misurkin sinh ngày 23 tháng 11 năm 1977 tại Yershichi, Nga. Anh đã lập gia đình và có hai con gái. Với sở thích về vũ trụ ngay từ bé, anh đã nỗ lực và quyết tâm để vào được Học Viện Hàng Không Quân Sự Nga. Tại đây anh đã được đào tạo trở thành một kỹ sư – phi công xuất sắc. Năm 1999, Alexander Misurkin chính thức tốt nghiệp cùng một huy chương vàng dành cho người xuất sắc nhất. Sau khi tốt nghiệp, anh công tác với vị trí là người chỉ huy những chuyến bay hàng không quân sự. Với kinh nghiệm và khả năng của mình, tháng 10/2006 Misurkin chính thức được lựa chọn để đào tạo chuẩn bị cho những nhiệm vụ của mình trên vũ trụ. Tiếp tục trong khóa đào tạo này, phi hành gia người Nga lại chứng tỏ được sự xuất sắc. Tuy nhiên đến năm 2011, anh vẫn tiếp tục phải tham gia một khóa đào tạo và sát hạch của ISS. Và anh chính thức thực hiện nhiệm vụ đầu tiên trên không gian của mình đầu năm nay cùng một đội gồm 2 phi hành gia.
Ngoài đam mê về quân sự và vũ trụ, Alexander Misurkin luôn tích cực tham gia nhiều môn thể thao như cầu lông, bóng chuyền… Ở bộ môn nào anh cũng đều rất xuất sắc.

2. Pavel Vinogradov




Người thứ hai trong danh sách này cũng là một người Nga. Pavel Vinogradov tên thật là Pavel Vinogradov Vladimirovich là phi hành gia thứ 87 của Nga. Ông đã kết hôn và có một người con. Ngay từ thủa còn là học sinh trung học, ông đã có thành tích rất xuất sắc, giành được nhiều giải thưởng vật lý và toán học của thành phố. Kết thúc trung học, ông học để trở thành một kỹ sư cơ khí chuyên lắp ráp máy bay tại Viện Hàng Không Moscow (MAI). Năm 1977 ông tốt nghiệp và tiếp tục học lên cao, đến năm 1980 ông trở thành một nhà phân tích hệ thống máy tính cho phòng thiết kế máy bay tự động của MAI.
Trong quá trình làm việc, ông đã hoạt động ở nhiều vị trí khác nhau từ việc thiết kế phần mềm cho tàu vũ trụ, phát triển động học máy bay, đồ họa máy tính… và ở vị trí nào ông cũng đều hoàn thành rất xuất sắc. Là một người rất đa năng và có kinh nghiệm, những chuyến “công tác” của ông trên vũ trụ đã được bắt đầu vào năm 1994. Cho đến hiện tại ông đã lên vũ trụ nhiều lần. Trong những lần trước đây, tổng thời gian ông làm việc trên vũ trụ là hơn 380 ngày cùng rất nhiều giờ đi bộ trong không gian. Ông là một trong những phi hành gia có kinh nghiệm nhất và là chỉ huy của cả phi hành đoàn.
Hiện tại, Pavel Vinogradov đang thực hiện nhiệm vụ trên trạm vũ trụ ISS cùng đội của mình. Ngày 9/5/2013 là ngày thứ 161 trên vũ trụ của Vinogradov.

3. Chris Cassidy




Phi hành gia tiếp theo của chúng ta là một công dân Mỹ. Anh tên thật là Christopher J. Cassidy, sinh ngày 4 tháng 1 năm 1970 tại Massachusetts. Anh đã kết hôn và có ba con. Sau khi tốt nghiệp trung học, anh học tại Học Viện Hải quân và sau đó lại tiếp tục học chuyên sâu về kỹ thuật biển tại học viện công nghệ Massachusetts. Cassidy đã dành 10 năm để làm việc trong hải quân, trong một thời gian ngắn, anh trở thành chỉ huy của một trung đội SEAL và phục vụ ở Afghanistan trong thời chiến. Có thể nói anh là một trong số ít phi hành gia không theo học về hàng không ngay từ đầu mà đã lọt vào mắt xanh của NASA do tài năng và kinh nghiệm phục vụ của mình. Giữa năm 2004 là thời điểm anh gia nhập NASA và bắt đầu tham gia một loạt khóa đào tạo ứng viên phi hành gia, hưỡng dẫn kỹ thuật cho tàu con thoi, đào tạo sinh tồn… Tháng 7 năm 2009, anh bắt đầu tham gia chuyến đi vũ trụ đầu tiên của mình với hơn 376 giờ trong không gian.
Tháng 3 năm 2013, Cassidy cùng với phi hành gia Nga Pavel Vinogradov và Alexander Misurkin đã được bay lên vũ trụ tiếp nhận nhiệm vụ.

4. Yurchikhin Fyodor Nikolayevichi




Phi hành gia người Nga này sinh ngày 3 tháng 1 năm 1959 tại Batumi, Georgia. Ông mang quốc tịch Nga. Con đường đến vũ trụ của ông bắt đầu khi ông nhận được giấy gọi của học viện Hàng không Moscow. Ở đây ông đã rèn luyện xuất sắc và tốt nghiệp vào năm 1983. Không dừng lại ở đó, Yurchikhin tiếp tục học lấy bằng thạc sĩ. Từ năm 1983 đến tháng 8 năm 1997, ông công tác tại Tổng cục hàng không Nga lần lượt tại các vị trí: kỹ sư, kỹ sư cao cấp, kỹ sư trưởng và phi hành gia. Từ năm 2012, ông tham gia vào công tác huấn luyện tại trung tâm đào tạo phi hành gia Gagarin.
Yurchikhin Fyodor Nikolayevichi bay vào vũ trụ lần đầu tiên trên tàu con thoi STS-112 vào ngày 18 tháng 10 năm 2002. Sau này, ông còn thực hiện nhiều lần bay khác với tổng thời gian trên vũ trụ là 371 ngày. Trong cuộc sống bình thường, ông yêu thích việc sưu tầm các loại biểu tượng không gian, đọc sách khoa học viễn tưởng và chơi thể thao. Ông và vợ có hai người con. Chuyến đi hiện tại trên vũ trụ của ông là chuyến bay thứ lần tứ 4 lên vũ trụ.

5. Karen Nyberg



Mỹ và Nga không hổ danh là hai cường quốc trong lĩnh vực không gian vũ trụ. Phi hành gia thứ năm trong danh sách này là một người Mỹ. Đặc biệt hơn cô cũng là người phụ nữ duy nhất đang làm việc trên vũ trụ. Karen Nyberg sinh ngày 7 tháng 10 năm 1969 tại Minnesota, Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp trung học, cô theo học ngành khoa học cơ khí tại đại học Bắc Dakota. Tốt nghiệp đại học năm 1996, cô tiếp tục học thạc sĩ tại Đại học Texas. Trong quá trình đi học cô đã giành được rất nhiều các giải thưởng, sau này sau khi gia nhập NASA cô cũng được vinh danh nhiều lần và là một trong những người phụ nữ xuất sắc nhất trong cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ.
Karen Nyberg được lựa chọn vào NASA vào năm 2000. Sau khi hoàn thành hai năm đào tạo cơ bản, cô phục vụ về kỹ thuật trong các văn phòng chi nhánh điều khiển các trạm vũ trụ. Năm 2008, cô bắt đầu chuyến bay đầu tiên vào vũ trụ của mình và lưu lại không gian 13 ngày.
Tiến sĩ Nyberg hiện đang phục vụ như là một kỹ sư máy bay trên tàu trạm Expediton 36. Cô bắt đầu lên vũ trụ ngày 28/5/2013 và tính đến ngày 9/5/2013 là ngày thứ 100. Trong cuộc sống bình thường Karen Nyberg là một người thích hội họa và âm nhạc, cô đã kết hôn và luôn mong muốn có thời gian dành cho gia đình.

6. Luca Parmitano



Người cuối cùng trong danh sách là một công dân Ý. Luca Parmitano sinh ngày 27 tháng 9 năm 1976. Anh có bằng cử nhân về khoa học chính trị tại Đại học Naples Federico II vào năm 1999 và tiếp tục theo học một ngành không nhiều liên quan lắm tại Học viện không quân Ý. Trong cuộc sống bình thường anh có sở thích bơi lội, đọc sách và trượt tuyết. Luca đã lập gia đình và có hai con gái.
Sau một thời gian làm việc tại Ý. Năm 2005, Luca lại tiếp tục được huấn luyện và hoàn thành chương trình lãnh đạo chiến thuật tại Bỉ. Từ đó, Luca đã trở thành một nhân vật tiêu biểu trong lực lượng hàng không Ý và được lựa chọn trở thành phi hành gia tháng 5 năm 2009. Chuyến bay đầu tiên vào vũ trụ của Parmitano chính là cùng với Fyodor Yurchikhin, Karen Nyberg vào 28 tháng 5 vừa rồi. Họ được gửi lên trạm vũ trụ ISS để hỗ trợ cho phi hành đoàn của Chris Cassidy (NASA), Alexander Misurkin và Pavel Vinogradov (cùng thuộc Roscosmos) để trở thành Đoàn bay quốc tế thứ 36 đầy đủ với chỉ huy trưởng là Pavel Vinogradov.

Thủ phạm bí ẩn tạo ra "vòng tròn thần tiên"




Sau nhiều năm nghiên cứu, các nhà khoa học đã tìm ra "thủ phạm" tạo ra vô số "vòng tròn thần tiên" - là các điểm trơ trụi dị thường có hình vòng tròn bí ẩn trên cánh đồng cỏ sa mạc cát ở Namibia, miền Nam châu Phi. Đó chính là do loài mối.

Các nghiên cứu trước đã chỉ ra, các “vòng tròn thần tiên” nhỏ có tuổi thọ trung bình khoảng 24 năm trong khi các vòng tròn lớn hơn có thể tồn tại tới 75 năm. Tuy nhiên, các nhà khoa học không thể lý giải được tại sao các vòng tròn lại hình thành, tồn tại một thời gian và sau đó biến mất không để lại dấu vết sau vài thập niên.




Họ đã đưa ra khá nhiều giả thuyết như đó là hoạt động của kiến và mối nhưng không ai có thể đưa ra những bằng chứng xác thực chứng minh điều này.

Chỉ mới đây, nhà sinh học Norbert Juergens của ĐH Hamburg (Đức) cho rằng loài mối cát Psammotermesallocerus có thể là thủ phạm gây nên những "vòng tròn thần tiên".

Juergens cho biết: "Cứ mỗi khi tới một hình tròn, tôi luôn nhìn thấy mối cát Psammotermesallocerus. Do cỏ không mọc bên trong những vòng tròn, nước mưa sẽ ngấm thẳng xuống đất xốp. Lượng nước đó đủ lớn để giúp mối tồn tại trong mùa khô".


Hình ảnh về mối cát Psammotermesallocerus

Ngoài mối cát Psammotermesallocerus, Juergens còn tìm thấy một loài mối khác và hai loài kiến. Song chúng chỉ xuất hiện trong vài hình tròn, chứ không phải tất cả. Ông chia sẻ:"Dường như những con mối đã ăn rễ cỏ khiến những cây cỏ biến mất và tạo nên vòng tròn".

Juergens vẫn đang tiếp tục nghiên cứu để đưa ra lời giải thích cho việc, tại sao mối cát tạo ra vòng tròn, chứ không phải bất kỳ hình nào khác.

Theo Trí Thức Trẻ

Đã tìm ra mộ Alexander đại đế?

Các nhà khảo cổ cho rằng, có thể họ đã phát hiện ra ngôi mộ của Alexander đại đế tại một nơi gần Amphipolis cổ đại, cách Athens 370 dặm về phía bắc.

Vị vua chiến binh - người cai trị trong thế kỷ 4 trước Công nguyên - được cho là đã bị chôn vùi ở Ai Cập. Nhưng giờ đây, các chuyên gia đã phát hiện một bức tường mặt đá cẩm thạch dài 500 m, cao 3 m có niên đại cùng thời điểm đó. Các chuyên gia tin rằng mô đất nhân tạo cổ xưa này có thể chứa hài cốt của vua, hoặc ít nhất là một ngôi mộ quan trọng của hoàng gia Macedonia.

Alexander III, còn được gọi là Alexander đại đế, là một vị vua của Macedonia, một quốc gia ở miền bắc Hy Lạp cổ đại. Ông sinh ra tại Pella vào năm 356 trước Công nguyên (TCN) và được Aristotle dạy dỗ đến năm 16 tuổi. Năm 30 tuổi  ông đã xây dựng một trong những đế chế lớn nhất của thế giới cổ đại, trải dài từ biển Ionian tới dãy Hymalaya.
Alexander đã nối ngôi cha năm 336 TCN và thừa hưởng một vương quốc hùng mạnh với lực lượng quân đội giàu kinh nghiệm. Thừa hưởng những chiến thuật quân sự của Hy Lạp, ông bắt đầu kế hoạch xâm lăng với một loạt chiến dịch kéo dài 10 năm. Bất bại trong hầu hết các trận đánh, ông được coi là một trong những vị tướng giỏi nhất trong lịch sử. Người ta tin rằng Alexander đại đế đã chết tại Babylon năm 323 TCN trước khi thực hiện kế hoạch xâm lược Ả Rập.
Ông được coi là người sáng lập 20 thành phố mang tên mình, bao gồm cả Alexandria ở Ai Cập cổ đại và nền văn hóa phía đông Hy Lạp. Có một số câu chuyện kể về nơi Alexander đại đế được chôn cất sau khi ông đột ngột qua đời ở tuổi 32 (có giả thuyết cho rằng ông đã bị đầu độc). Theo những ghi chép trong lịch sử, ông được chôn cất trong một quan tài bằng vàng chứa đầy mật ong. Người ta cho rằng thi hài ông đã được đưa tới Memphis, sau đó được di chuyển đến Alexandria ở Ai Cập và được lưu giữ tại đó đến cuối thời cổ đại.
Phương Tú - Tạ Xuân Quan

Tạo não tí hon từ da người

Các nhà khoa học đã sử dụng những tế bào gốc trích lấy từ da để phát triển mô 3D bắt chước một bộ não người. Đột phá được kỳ vọng sẽ giúp chữa trị các căn bệnh thần kinh như tâm thần phân liệt và tự kỷ.

Giáo sư Juergen Knoblich thuộc Viện Công nghệ sinh học phân tử ở Vienna, Áo, đã trích lấy các tế bào gốc đa năng cảm ứng (iPS) từ mô liên kết của một bệnh nhân mắc chứng nhỏ đầu. Đây là một rối loạn gene hiếm gặp nhưng vô cùng nguy hiểm, làm suy giảm đáng kể kích thước bộ não của bệnh nhân và khiến "khổ chủ" bị khuyết tật về tâm thần nghiêm trọng.


Bộ não non nớt tí hon ra đời từ các tế bào gốc trích lấy từ da người. (Ảnh: National News)

Giống như nhiều căn bệnh về thần kinh khác, giới khoa học hiện rất khó nghiên cứu về chứng nhỏ đầu ở chuột vì chúng không có sự phức tạp về bộ não như ở con người.

Giáo sư Knoblich và các cộng sự đã sử dụng một hệ thống khung đỡ ma trận 3D, vốn mô phỏng môi trường của phôi thai người và các thiết bị phòng thí nghiệm đặc biệt có tên gọi là "lò phản ứng sinh học quay", chuyên dùng sản sinh chất dinh dưỡng và khí oxy, để thúc các tế bào iPS của bệnh nhân phát triển thành những bộ não tí hon.

Các bộ não mô phỏng mới có kích thước chỉ đạt 3 - 4 milimet chiều ngang và có cấu trúc tương tự như bộ não người còn non nớt. Chúng đã giúp nhóm nghiên cứu nhận diện khiếm khuyết ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của bộ não người ở bệnh nhỏ đầu.

Giáo sư Knoblich hy vọng, trong tương lai có thể sử dụng các bộ não nhân tạo tí hon trên để nghiên cứu thêm nhiều rối loạn phổ biến nữa như bệnh tâm thần phân liệt và tự kỷ vì nó cho thấy các khuyết tật ẩn giấu xảy ra trogn quá trình phát triển của bộ não.


Bộ não người bình thường (trái) và bộ não non nớt nhân tạo (phải) đang trong quá trình phát triển. (Ảnh: National News)

Đánh giá về nghiên cứu của nhóm nhà khoa học Áo, tiến sĩ Oliver Brustle, chuyên gia nghiên cứu về bệnh học thần kinh và tế bào gốc lừng danh tại Đại học Bonn (Đức), mô tả công trình "rất đáng chú ý". Ông Brustle nói, công trình này hứa hẹn mang tới một công cụ quan trọng mới giúp hiểu rõ hơn về nguyên nhân của các rối loạn phát triển não nghiêm trọng cũng như thử nghiệm những biện pháp chữa trị tiềm năng.

Tuy nhiên, các nhà khoa học khẳng định, chúng ta vẫn còn xa mới đạt được khả năng tạo ra một bộ não nhân tạo và thậm chí cả các bộ phận của bộ não bị tổn thương.

Theo Vietnamnet, Daily Mail

Trung Quốc phóng tàu lên mặt trăng vào cuối năm



Trung Quốc đang lên kế hoạch phóng con tàu thám hiểm thứ ba lên mặt trăng vào cuối năm nay để tiếp tục khảo sát hành tinh này.

Con tàu thám hiểm sẽ lên mặt trăng sắp tới của Trung Quốc mang tên Hằng Nga 3. Thiết bị này đã được lắp ráp và thử nghiệm xong, New York Times cho hay.


Tàu thám hiểm Hằng Nga 2 được phóng vào năm 2010. (Ảnh: Wikipedia)

Hằng Nga 3 sẽ có nhiệm vụ khảo sát ban đầu trên bề mặt mặt trăng. Việc này đòi hỏi công nghệ phức tạp, kèm theo mức độ rủi ro lớn và trách nhiệm cao.

Hằng Nga 3 sẽ tiếp tục nhiệm vụ thám hiểm mặt trăng của Trung Quốc. Hai phiên bản trước của con tàu thám hiểm này là Hằng Nga 1 và Hằng Nga 2 đã được Trung Quốc phóng thành công, lần lượt vào các năm 2007 và 2010. Hiện chưa có thông tin cụ thể về ngày Trung Quốc cho ra mắt Hằng Nga 3.

Việc lắp đặt những thiết bị khoa học kỹ thuật hiện đại trong không gian được coi là nhiệm vụ chiến lược của Trung Quốc để chứng minh sức mạnh của một cường quốc thế giới đa diện.

Năm 1969, Mỹ phóng tàu vũ trụ có người lái đầu tiên lên mặt trăng. Mỹ cũng dự định sẽ thực hiện vụ phóng tiếp theo vào ngày 6/9 tới.
vne

Nga trục vớt khối thiên thạch từ đáy hồ Chebarkul



Công ty Aleut có trụ sở tại thành phố Ekaterinburg vừa thắng thầu giành quyền trục vớt khối thiên thạch khổng lồ rơi xuống hồ Chebarkul ở tỉnh Chelyabin, Liên bang Nga hồi giữa tháng Hai năm nay.



Khối thiên thạch khổng lồ rơi xuống hồ Chebarkul. (Nguồn: rt.com)

Theo kế hoạch, Aleut sẽ đầu tư khoảng 1,67 triệu rúp (hơn 50.000 USD) cho các hoạt động liên quan đến việc trục vớt khối thiên thạch ở Chelyabin. Dự kiến, công việc trục vớt này sẽ bắt đầu vào tháng Chín năm nay và kéo dài trong vòng 29 ngày.

Ngày 15/2, khối thiên thạch có đường kính gần 15 mét và nặng khoảng 7.000 tấn đã lao vào khí quyển với vận tốc 64.000km/giờ và phát nổ ở độ cao 19-24km so với mặt đất, gây ra đám mưa thiên thạch trên bầu trời các tỉnh Chelyabin, Tyumen, Kyrgan và Sverdlovsk, cũng như nhiều địa phương ven dãy núi Urals.

Hơn 1.200 người dân ở các địa phương nói trên đã bị thương, trong đó có 50 người phải nhập viện. Thiệt hại vật chất ước tính lên hơn 1 tỷ rúp (hơn 33 triệu USD).

Ngay sau vụ nổ, người dân ở tỉnh Chelyabin đã tìm thấy nhiều mảnh vỡ thiên thạch, tuy nhiên giới khoa học nhận định thiên thạch đang nằm dưới đáy hồ Chebarkul là phần lớn nhất của "vị khách đến từ vũ trụ" này.

Khám phá bí ẩn trong lòng mặt trời

(TNO) Nghiên cứu mới đã lật lại mọi hiểu biết lâu nay về cơ chế chuyển động trong lòng mặt trời, theo các chuyên gia thuộc Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA).

Bề mặt cắt lớp của mặt trời, cho thấy chu kỳ chuyển động đôi của vật chất - Ảnh: NASA


Theo báo cáo trên chuyên san Astrophysical Journal Letters, các chuyên gia phát hiện trong lòng mặt trời đang diễn ra vòng tuần hoàn đôi, với hai chu kỳ chồng lên nhau.

Thay vì một chu trình đơn giản bao gồm dòng chảy di chuyển từ xích đạo đến các cực gần bề mặt và sau đó quay về nơi xuất phát, dữ liệu thu thập được từ Đài quan sát Động lực học Mặt trời (SDO) của NASA cho thấy có sự lưu thông hai lớp bên trong ngôi sao trung tâm của chúng ta.
“Trong nhiều thập niên, con người cho rằng chu kỳ mặt trời phụ thuộc vào dòng chảy đến các cực, làm thay đổi từ trường giữa các chu kỳ với nhau”, theo Space.com dẫn lời Philip Scherrer của Đại học Stanford (Mỹ).
Ông Scherrer cho hay dự đoán dựa trên mô hình đó đã không cho kết quả chính xác như đã diễn ra trên thực tế, và nhờ vào dữ liệu thu thập trong vòng 2 năm của SDO, giới chuyên gia đã hiểu thêm được điều gì đang xảy ra dưới bề mặt nóng bỏng của mặt trời.
Phát hiện mới có thể giúp cải thiện kết quả dự đoán về độ mạnh yếu của chu kỳ mặt trời kế tiếp, đặc biệt quan trọng trong thời điểm chu kỳ đảo cực từ của mặt trời sẽ xảy ra trong vài tháng tới.
Hạo Nhiên

Robot P37 S65 - trợ thủ đắc lực cho người cao niên



Cục Điều tra dân số thế giới gần đây cho biết người cao tuổi sẽ chiếm 16% dân số toàn cầu vào năm 2050, tương ứng 1,5 tỉ người trên 65 tuổi.

Khi đó, công tác chăm sóc thể chất và tinh thần cho những người cao niên sẽ là công việc to lớn, trong khi các chuyên gia lo ngại lực lượng chuyên viên được đào tạo bài bản và sẵn sàng tham gia công việc này chắc chắn sẽ thiếu hụt. Tuy nhiên, ông Antonio Espingardeiro, một chuyên gia về robot và tự động hóa tại Đại học Salford (Anh), tin rằng robot có khả năng đáp ứng nhu cầu của tình trạng dân số già trong tương lai.

Vốn là kỹ sư phần mềm, Espingardeiro đang hoàn thành chương trình tiến sĩ với đề tài tương tác giữa robot và con người. Ông vừa phát triển một mô hình robot chăm sóc người cao tuổi tên là P37 S65, có thể cung cấp các dịch vụ chăm sóc cơ bản, theo dõi sức khỏe người già và liên lạc với bác sĩ. Theo ông Espingardeiro, robot có thể sử dụng các cảm biến và camera để giám sát người cao tuổi nhằm đảm bảo rằng họ uống thuốc đúng giờ và không bị té.


Chuyên gia Espingardeiro bên robot P37 S65 do ông phát minh. (Ảnh: ispr.info)

Hiện tại, công nghệ nhà thông minh cũng đang hỗ trợ rất nhiều cho người cao tuổi bằng cách sử dụng các cảm biến để theo dõi và tự động phát hiện khi có điều gì đó không ổn xảy ra. Nhưng robot P37 S65 cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe kỹ càng hơn.

Cụ thể, chúng có thể giúp đỡ những người mắc bệnh mất trí nhớ, nhắc nhở họ về công việc hàng ngày và lưu trữ những thông tin quan trọng như số điện thoại hoặc các loại thuốc, những thứ mà người cao tuổi có thể quên. Với một vài kỹ năng giao tiếp, robot cũng có thể giữ cho tâm trí người cao tuổi minh mẫn bằng cách “chat-chit” với họ, thử thách họ bằng những câu hỏi hoặc trò chơi trong khi theo dõi sự cải tiến hoặc sụt giảm trí nhớ của họ theo thời gian.

Ông Espingardeiro cho biết robot P37 S65 được trang bị màn hình máy tính, có thể hoạt động như máy giao tiếp từ xa, giúp thu hẹp khoảng cách giữa các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và người già. Theo các chuyên gia, việc di chuyển đến bệnh viện có thể gây căng thẳng cho người cao tuổi, trong khi thuê y tá đến làm việc tại nhà cũng tốn nhiều chi phí.

Nhưng với robot này, bác sĩ có thể thường xuyên kiểm tra bệnh nhân thông qua màn hình robot. Ngoài ra, các thành viên trong gia đình có thể giao tiếp từ xa với cha mẹ hoặc ông bà thông qua robot. Với trí thông minh nhân tạo và thiết kế hình người, robot này thậm chí có thể đóng vai như những người bạn, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, làm giảm sự cô đơn ở những người cao tuổi.

Hiện Nhật Bản cũng đang thử nghiệm các robot giúp người già giải khuây tại các viện dưỡng lão, như robot hình người Palro với khả năng thực hiện các cuộc trò chuyện đơn giản, thậm chí chơi trò chơi với người cao tuổi. Được biết, chính phủ xứ Phù Tang coi robot như là một giải pháp để giải quyết tình trạng dân số già của mình, do đó, họ đã dành 24 triệu USD trong ngân sách 2013 cho công tác nghiên cứu và chế tạo robot hỗ trợ người lớn tuổi.
cnn

Làm mây, mưa bằng laser

Các nhà khoa học đang nỗ lực điều khiển thiên nhiên bằng việc sử dụng tia laser để tạo ra những đám mây, gây mưa và tạo sét.


Thời gian tới, laser có thể được sử dụng để điều khiển thời tiết. Ảnh: University of Geneva.

Các chuyên gia từ nhiều nơi trên thế giới sẽ tập trung tại Tổ chức Khí tượng Thế giới trong tháng sau để thảo luận việc sử dụng ánh sáng laser tác động đến những biến đổi của thời tiết.

Nhóm chuyên gia sử dụng các thiết bị để bắn những xung ánh sáng laser cường độ mạnh lên bầu trời. Theo đó, ánh sáng laser với cường độ mạnh có thể gây nên hiện tượng ngưng tụ hơi nước và dẫn đến việc hình thành các đám mây, Telegraph cho hay.

Ngoài ra, công nghệ này còn có thể tạo ra sét và những cơn mưa nhân tạo. Giáo sư Jean-Pierre Wolf và tiến sĩ Jerome Kasparian tại đại học Geneva cho biết việc bắn laser vào khí quyển như một công cụ đầy tiềm năng cho điều khiển thời tiết và nghiên cứu khí hậu.

Các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm việc sử dụng ánh sáng laser hồng ngoại và ánh sáng laser cực tím để làm ngưng tụ hơi nước. Họ nhận thấy các tia laser có thể tạo được những tinh thể băng nhỏ, đây là một bước tiến quan trọng để hình thành mây và mưa nhân tạo.

Vào tháng 3, giáo sư Jean-Pierre Wolf cùng nhóm nghiên cứu của ông đã thử nghiệm thực tế bắn tia laser 100 terawatt vào bầu khí quyển tại một trung tâm nghiên cứu ở Frascati, gần thủ đô Roma của Italy. Theo giáo sư Wolf, mục đích của cuộc thử nghiệm trên nhằm mở rộng quy mô của các thí nghiệm ngưng tụ hơi nước đã được chứng minh ở cường độ thấp hơn.

Nhóm nghiên cứu cho biết công nghệ trên có thể được sử dụng để tạo ra những cơn mưa nhân tạo và làm sấm sét tránh xa những tòa nhà, xe cộ hoặc những nơi gây nguy hiểm cho con người.
xaluan

Sâu biển tái xuất sau 140 năm

Các nhà khoa học vừa phát hiện loài sâu tưởng như đã tuyệt chủng, sau 140 năm chúng ẩn mình dưới lòng đại dương.

Theo Livescience, vào năm 1873, những nhà thám hiểm biển đã phát hiện ra một loại sâu lạ dưới lòng đại dương, cách mặt nước khoảng 5,5km. Những phân tích sau này cho biết đó là một loại sâu sồi mới, có tên khoa học là Glandiceps Abyssicola.


Loài sâu biển có tên khoa học Glandiceps Abyssicola, xuất hiện sau 140 năm mất tích. (Ảnh: Live science)

Sâu sồi là một nhóm sinh vật sống dưới đáy biển, chúng ăn trầm tích và các mảnh vụn trôi nổi trong lòng đại dương. Tuy nhiên, suốt gần 140 năm kể từ đó tới nay, các nhà khoa học không phát hiện thêm được dấu vết loài này nữa.

Năm 2009, một nhóm nhà nghiên cứu tình cờ tìm thấy một đoạn thân động vật màu vàng trong một mẫu trầm tích ở vùng xích đạo Đại Tây Dương, gần Nam Mỹ. Xét nghiệm gene và di truyền của mẫu vật tìm được, các nhà khoa học kết luận đây chính là phần thân của loài sâu Glandiceps abyssicola. Nơi phát hiện ra cũng gần với địa điểm chúng xuất hiện lần đầu.

Karen Osborn, đồng tác giả công trình nghiên cứu và cũng là một chuyên gia về sâu tại Bảo tàng lịch sử tự nhiên quốc gia Smithsonian, Mỹ cho biết, nguyên nhân chính dẫn tới sự biến mất của loài sâu biển này do cơ thể chúng rất mảnh, dễ bị đứt khi vớt lên bằng lưới kim loại.

Loài sâu biển này có nhiều điểm khác biệt so với họ hàng của chúng ở vùng nước nông. Chúng săn chắc và dễ nghiên cứu hơn. Osborn cho biết thêm, với đặc tính ăn mảnh vụn dưới đại dương, loài sâu này giống như một nhà máy nhỏ tiêu thụ chất hữu cơ vậy.

VNE

Bảng tuần hoàn hóa học "sắp có nguyên tố thứ 115"

Các nhà nghiên cứu đưa ra bằng chứng mới cho sự tồn tại của nguyên tố thứ 115 trong bảng tuần hoàn hóa học.

Nhóm nghiên cứu từ đại học Lund, Thụy Điển, đã tìm thấy bằng chứng khẳng định sự tồn tại của nguyên tố hóa học có số hiệu nguyên tử 115. Thí nghiệm được tiến hành tại các cơ sở GSI ở Đức, kết quả của những phép đo trước đây thực hiện bởi nhóm nghiên cứu người Nga, MyScience đưa tin.

Nguyên tố thứ 115. (Ảnh: Gravitywarpdrive)

Ông Dirk Rudolph, giáo sư vật lý nguyên tử tại Đại học Lund, cho biết: "Đây là một thí nghiệm rất thành công, nó là một trong những thành tựu quan trọng nhất trong lĩnh vực này trong những năm gần đây”.

Bên cạnh việc quan sát nguyên tố hóa học mới, các nhà nghiên cứu còn truy xuất được dữ liệu mang lại cho họ cái nhìn sâu sắc hơn về cấu trúc và tính chất của các hạt nhân nguyên tử siêu nặng.

Trong quá trình thí nghiệm, các nhà khoa học bắn phá một lớp màng mỏng americium bởi các ion canxi, họ có thể đo được các photon đi kèm với quá trình phân rã alpha của nguyên tố mới. Năng lượng nhất định của các photon trùng khớp với năng lượng dự kiến của bức xạ tia X, đây chính là "dấu vân tay" của nguyên tố.

Nguyên tố siêu nặng mới vẫn chưa được đặt tên. Một ủy ban bao gồm các thành viên của hiệp hội vật lý và hóa học quốc tế sẽ xem xét những kết quả để quyết định có nên tiến hành thêm các thí nghiệm trước khi công nhận nguyên tố mới hay không.

Bằng chứng về nguyên tố hóa học thứ 115 sẽ được trình bày trên tạp chí Physical Review Letters trong cuối tháng 8 này.

Theo VNE

Mặt trăng chứa nước từ khi hình thành

Những nghiên cứu mới nhất cho thấy nước đã có mặt cùng thời điểm mặt trăng hình thành cách đây 4,5 tỷ năm.

Theo Nature Geoscience, các nhà khoa học đã tìm thấy bằng chứng về sự tồn tại của nước trên bề mặt của mặt trăng trong quá trình vận động địa chất cổ xưa.


Dấu vết của nước trên mặt trăng tại miệng núi lửa Bullialdus. (Ảnh: NASA)

Dấu vết nước được phát hiện có dạng các phân tử hydroxyl, được tìm thấy ở đỉnh miệng núi lửa Bullialdus. Các phân tử hydroxyl là các phân tử bao gồm một nguyên tử oxy liên kết với một nguyên tử hydro. Đây được coi là cấu trúc nhỏ hơn của một phân tử nước hoàn chỉnh.

Rachel Klima, trưởng nhóm nghiên cứu từ đại học Johns Hopkins cho hay ông không nghĩ đây là nước từ sao chổi hay từ các đợt gió mặt trời. "Chúng hẳn đã xuất hiện từ đầu cùng với các loại vật chất khác”, ông nói.

Các phân tử hydroxyl hình thành khí hydro trong các đợt gió tiếp xúc với các khoáng chất của đá trên bề mặt mặt trăng. Chúng có khuynh hướng kết hợp ở những nơi thoáng mát và dịch chuyển theo môi trường xung quanh. Có thể hiểu đơn giản là nhóm phân tử hydroxyl hình thành và bám vào bề mặt nếu môi trường mát và chúng sẽ dịch chuyển khi ấm hơn.

Klima và các đồng nghiệp không tìm thấy các phân tử hydroxyl trong vùng đất xung quanh trên mặt trăng, ngoại trừ đỉnh núi lửa Bullialdus. Điều này chứng tỏ rằng, các tiểu phân tử nước đã xuất hiện ở sâu trong lòng đất và vận động cùng với các chuyển động địa chất trên mặt trăng.
Theo VNE

Công nghệ nano đã có từ thế kỷ thứ 4?

Các nhà khoa học vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện, một chiếc ly có chân do người La Mã chế tạo cách đây 1.600 năm đã sử dụng những kỹ thuật tương tự như công nghệ nano hiện đại.

Chiếc ly bí ẩn có tên gọi “Lycurgus Cup“ có khả năng chuyển màu từ xanh sang đỏ phụ thuộc vào hướng ánh sáng chiếu rọi và vị trí của người quan sát. Ảnh: Daily Mail

Chiếc ly bí ẩn có tên gọi "Lycurgus Cup" được chế tạo từ thủy tinh lưỡng hướng sắc, giúp nó có màu xanh lá cây khi được chiếu sáng từ phía trước và chuyển thành màu đỏ tươi khi được rọi sáng từ phía sau. 

Theo tạp chí Smithsonian, chiếc ly đang được trưng bày tại Bảo tàng Anh ở London này đã sử dụng các kỹ thuật tương tự như công nghệ nano hiện đại, với khả năng thao túng các vật liệu ở cấp độ nguyên tử và phân tử. Các nhà khoa học chỉ giải mã được bí ẩn về khả năng đổi màu của Lycurgus Cup vào năm 1990, sau nhiều thập niên đau đầu tìm hiểu về nó. 

Sau khi nghiên cứu các mảnh vỡ của chiếc ly dưới kính hiển vi, các nhà nghiên cứu phát hiện, người La Mã đã tẩm chiếc ly bằng các hạt vàng và bạc được nghiền rất nhỏ, có đường kính chỉ khoảng 50 nanomét, tức là nhỏ hơn 1.000 lần so với một hạt muối. Lượng kim loại chính xác được trộn vào khiến các chuyên gia đánh giá người La Mã là "những nhân vật tiên phong về công nghệ nano" và họ thực sự hiểu mình đang làm gì. 

Nhà khảo cổ học Ian Freestone đến từ trường University College London (Anh), người đã nghiên cứu chiếc ly cũng như các đặc tính quang học kỳ lạ của nó, gọi Lycurgus Cup là một "kỳ công gây sửng sốt". 

Lycurgus Cup dường như chuyển màu khi có ánh sáng rọi chiếu do đốm sáng của các điện tử kim loại rung động theo những cách làm biến đổi màu sắc, tùy thuộc vào vị trí của người quan sát nó. Chiếc ly từng được sử dụng để đựng đồ uống vào các dịp đặc biệt và theo nhận định của giới nghiên cứu, khi ly được rót đầy chất lỏng, hành vi của các điện tử dao động sẽ thay đổi, kéo theo sự chuyển màu của chiếc lý. 

Gang Logan Liu, một kỹ sư kiêm chuyên gia công nghệ nano thuộc Đại học Illinois (Mỹ) quả quyết, người La Mã đã biết cách tạo ra và sử dụng các hạt nano cho những tác phẩm nghệ thuật đẹp đẽ.

xaluan

Những ghi chép về loài rồng "có thật" trong lịch sử

Rất nhiều câu chuyện truyền thuyết đã miêu tả về loài sinh vật to lớn, biết khạc ra lửa này...

Xuất hiện trong thần thoại phương Đông và phương Tây, rồng được biết tới như một sinh vật huyền thoại có sức mạnh phi thường. Hầu hết chúng ta đều cho rằng loài vật thần kỳ này không có thật nhưng lịch sử loài người đã nhiều lần ghi nhận sự xuất hiện của chúng.


Cuốn sử thi lâu đời nhất Trái đất Gilgamesh, được viết vào năm 2.000 TCN tại Lưỡng Hà đã miêu tả lại sinh vật Humbaba có hình dạng đặc biệt. Nó có chiếc bờm sư tử, mặt rắn, sừng khắp thân, chân có móng vuốt của kền kền, trên đầu có sừng của bò, miệng có thể phun lửa và nước.

Ngay cả trong Kinh Thánh cũng mô tả về sinh vật huyền ảo này và Daniel được ghi nhận là người giết "rồng" đầu tiên. Sau khi thấy người Babylon thờ phụng một loài bò sát khổng lồ có cánh, biết phun lửa và bay, Daniel đã chứng minh, con vật to lớn, hình dáng quái dị này chỉ gây đảo lộn, sát hại mạng sống con người mà thôi.

Dù có ra sức chứng minh nhưng nhiều người không tin. Bởi vậy mà Daniel đã lên kế hoạch giết nó bằng cách cho nó ăn nhiều chất béo, tóc, các vật dễ cháy rồi làm cho con vật nổ tung.

Truyền thuyết được biết đến nhiều ở châu Âu là về St. George - người vô tình đến một thị trấn lạ và bị đe dọa bởi con rồng to lớn, đáng sợ. Ở đây, ông đã cứu sống một thiếu nữ, bảo vệ bản thân bằng cây Thánh giá và cuối cùng giết chết con quái thú.

Những cư dân của thị trấn yêu mến lòng dũng cảm và đức tin của St. George, ngay lập tức đã đồng lòng đi theo Thiên chúa giáo. Một câu chuyện tương tự về St. Columba, người vào năm 565 đã tiêu diệt một con quái vật khổng lồ dưới nước. Điều thú vị cả 2 đều là những hiệp sĩ có thật trong lịch sử.

St. George và con Rồng - tranh của danh họa Paolo Uccello, 1470

Vào thời Trung cổ, thuyền của người Viking cũng luôn đặt một khúc gỗ chạm khắc đầu rồng phía trước. Họ tin rằng, sẽ giúp ngụy trang trước những con rồng của biển cả. Lúc bấy giờ, đa phần dân Viking vô thần, hoặc theo tôn giáo Bắc Âu, đề cao sự dũng cảm, khoa học và chắc hẳn phải có lý do họ mới tin vào sự tồn tại của rồng biển.

Trí tưởng tượng hay loài vật có thật?


Không chỉ tồn tại trong văn bản mang đậm chất tôn giáo, ở nhiều tài liệu khoa học và lịch sử cũng ghi nhận không ít lần con người gặp gỡ loài rồng. Trong sách sử của đế chế Macedonia có ghi lại câu chuyện của Alexander Đại đế khi xâm lược Ấn Độ, ông đã kể với quân lính một chuyện kì lạ. Đó là ông nhìn thấy một con thằn lằn khổng lồ sống trong hang động, nó vô cùng hung dữ và nguy hiểm.


Trong cuốn sách kể về chuyến du hành tại Trung Quốc của mình, Marco Polo có kể lại một chuyện kỳ bí. Trong một lần phiêu lưu ở tỉnh Karajan, ông bắt gặp con rắn khổng lồ có 2 chân ngắn ở phía trước, mỗi chân đều có ba móng vuốt.

Nó có chiếc miệng rộng, hàm răng sắc nhọn đủ để nuốt một người đàn ông, tính tình vô cùng hung dữ... Với vẻ ngoài này, nó đủ khiến bất kỳ loài động vật nào cũng phải e dè trước chúng. Sách còn kể về việc nhiều thanh niên trong vùng tập trung thành từng nhóm để săn bắt loài này, vì họ cho rằng, máu của chúng là thứ rất bổ.

Hình vẽ rồng của nhà khoa học Aldrovandi

Aldrovandi người được xem là cha đẻ của khoa học tự nhiên hiện đại cũng ghi chép nhiều thông tin về loài sinh vật ông cho là rồng. Là một nhà khoa học, ông đã đi nhiều nơi, thu thập tư liệu về hàng ngàn loài động, thực vật và tạo ra bảo tàng lịch sử tự nhiên đầu tiên.

Trong chuyến thực địa tại vùng ngoại ô thành phố Bologna ngày 13/5/1572, Aldrovandi đã nhìn thấy một sinh vật dài hơn 1m, rít lên như con rắn. Theo mô tả, sinh vật này có đầu thú, 2 chân nhỏ phía trước, phần thân phình to với nhiều vẩy sừng, cùng 1 đôi cánh ở lưng.

Con vật kỳ lạ bị những người nông dân đập chết và phanh thây trước sự chứng kiến của Aldrovandi. Ngay lập tức, ông đã vẽ lại hình dáng của sinh vật này, ông cho rằng, rất có thể đây là một con rồng nhỏ tuổi nên cơ thể chưa phát triển một cách đầy đủ.

Hình ảnh miêu tả rồng châu Âu

Trong thư viện của vua Henry VIII cũng có nhiều sách, tranh ảnh nói về loài rồng. Trong đó, nhiều cuốn sách ghi lại rằng: “Loài vật đặc biệt này lớn hơn tất cả những con rắn khác hay tất cả các sinh vật sống trên Trái đất. Sinh vật này thường ở trong các hang động, nó có mào, một cái miệng nhỏ hẹp và thường phả hơi nóng. Sức mạnh của nó không nằm trong hàm răng mà ở chiếc đuôi to lớn.

Một số con rồng mang độc trong người nhưng chúng ít khi sử dụng đến nó. Tất cả loài rồng đều sinh ra ở Ethiopia và Ấn Độ - nơi có nhiệt độ nóng quanh năm. Từ nơi đây, chúng sẽ chu du khắp nơi trên thế giới nhờ đôi cánh của mình”. Nhiều người đương thời còn cho rằng, vua Henry đã nuôi dưỡng 1 con rồng dưới hầm trong lâu đài của mình.

Rồng xuất hiện rất nhiều trong các nền văn hóa ở khắp nơi

Sử gia nổi tiếng trong thế kỷ XVII - Christopher Schorerum đã viết lại một trải nghiệm khó tin trong cuốn tự truyện của mình như sau: "Vào một đêm ấm áp năm 1619, tôi thấy một khối sáng rực xuất hiện trên bầu trời. Lúc đầu, tôi nghĩ rằng nó là một thiên thạch nhưng nhìn kĩ lại, nó là một con vật to lớn với chiếc cổ và đuôi dài, phần đầu giống một con bò sát và hàm lớn dữ dội. Khi nó bay, nó giống như đang phân tán tia lửa ra khắp nơi...”.

Ngày 26/4/1890, nhiều tờ báo ở Arizona đồng loạt đưa tin, các cao bồi đã nhìn thấy một con rồng xuất hiện trên bầu trời. Những nhân chứng mô tả, sải cánh của nó là tới hàng chục mét, cơ thể lớn tới 27m, có đầu giống con thằn lằn với cái mỏ dài đáng sợ. Mô tả này hoàn toàn trùng khớp với loài khủng long Quetzalcoatlus, một hóa thạch được tìm thấy ở Texas ít năm sau đó.


Tiến sĩ Donald Stewart - nhà nghiên cứu sinh vật học khi làm việc tại hồ Morar ở Scotland mô tả một sinh vật giống như rồng, có bướu trên lưng, dài khoảng 6m. Vào tháng 8/1969, trong lần ra câu cá ở hồ Morar, hai người đàn ông Duncan McDonnell và Bill Simpson phát hiện thấy một con quái vật dài gần 8m khi nó đâm vào xuồng máy của họ. Nó có lớp da dày, màu nâu sậm với 3 cái bướu màu đen trên lưng, chiếc đầu giống rắn, sau đó nó biến mất thật nhanh vì bị một người đánh bằng mái chèo và người kia nổ súng.


Với sự phổ biến trong văn hóa cùng những ghi nhận rõ ràng trên lịch sử, chúng ta vẫn có thể hy vọng loài bò sát khổng lồ sống trong hang động, vùng biển hay các thung lũng, cánh rừng mà con người ít đặt chân đến mang tên "rồng" là có thật. Chúng thực sự là một bí ẩn vĩ đại và đang đợi chờ để một ngày được chúng ta khám phá.


Theo Trí Thức Trẻ

Các phi hành gia lấy oxy từ đâu

Đối với mạng sống của con người, so với nước và thực phẩn, oxy còn quan trọng hơn rất nhiều. Trên Trái đất, bầu khí quyển dường như là nguồn cung cấp oxy vô tận. Nhưng trong vũ trụ chân không hoàn toàn vắng mặt oxy, các nhà du hành thở bằng gì?

Nếu nhà du hành vũ trụ bị rơi vào khoảng không không có oxy sẽ xảy ra tình trạng thiếu oxy cấp tính. Trong vòng vài phút, sinh mạng của nhà du hành sẽ gặp nguy hiểm, vì vậy khi bay trong vũ trụ, cung cấp oxy là vấn đề ưu tiên hàng đầu.


Có nhiều giải pháp cho vấn đề này.

1. Hoá lỏng oxy trong các bình chịu áp suất cao: Các nhà leo núi, thợ lặn và các phi công lái máy bay đều dùng các bình oxy kiểu đó. Tuy nhiên, phương pháp này khá hạn chế ở chỗ các bình chứa quá nặng mà lượng oxy thu được lại rất ít.

2. Dùng các peoxyt của kim loại kiềm và kiềm thổ để lưu giữ và giải phóng oxy: Khi đốt kim loại kiềm trong điều kiện dư oxy, đốt kim loại kiềm thổ trong oxy ở điều kiện áp suất cao có thể tạo được các peoxyt. Khi mang các peoxyt vào khoảng không vũ trụ, cho tác dụng với nước hoặc khí cacbonic, ta sẽ thu được oxy. Vì peoxyt ở dạng rắn có thể tích nhỏ nên dễ mang theo. Khác với oxy lỏng, ở đây không cần các dụng cụ chứa đặc biệt.

Dùng phương pháp này còn có ưu điểm rất lớn là peoxyt có thể tác dụng với khí cacbonic do các nhà du hành thải ra để tạo oxy. Trên thực tế khí cacbonic do các nhà du hành thải ra là một chất có hại nên cần tìm cách loại bỏ. Trong quá trình vừa nêu, người ta đã lợi dụng khí phế thải để chế tạo oxy.

3. Dùng nước oxy già (công thức phân tử H2O2) làm nguồn sinh oxy: Tuy nước oxy già là chất lỏng nhưng không cần phải dùng các thiết bị chịu áp lực cao để chứa đựng. Chỉ cần dùng bạc làm chất xúc tác là có thể phân giải nó thành oxy, nước và nhiệt năng. Ba loại sản phẩm này đều rất cần cho nhà du hành: oxy để thở, nước để uống và nhiệt năng là năng lượng tất nhiên rất cần cho tàu vũ trụ.

4. Điện phân nước để sản xuất khí oxy và hydro: Khí hydro sinh ra có thể cho tác dụng với khí cacbonic do các nhà du hành thải ra để tạo ra khí metan (CH4) là một chất cháy dùng sinh năng lượng.

5. Dùng tảo lam quang hợp: Tảo lam là một loại thực vật ở biển. Khi quang hợp, nó có thể sử dụng khí cacbonic do các nhà du hành thải ra và nước để tạo ra đường glucoza và oxy. Chỉ cần tạo điều kiện cho tảo lam sinh sống là có thể tạo được nguồn oxy liên tục. Đây có thể là một biện pháp rất kinh tế.
sotechvn

Mặt trời là thiên thể như thế nào?

Trên Trái đất, hàng ngày chúng ta đều nhìn thấy Mặt trời mọc ở hướng Đông và lặn ở hướng Tây, Mặt trời chiếu sáng Trái đất, mang lại ánh sáng và nhiệt cho chúng ta. 

Mặt trời là thiên thể trung tâm trong hệ Mặt trời, và cũng là một hành tinh có khoảng cách gần với Trái đất của chúng ta nhất. Khoảng cách trung bình của nó với Trái đất là 149.600.000 km, đường kính là 1,39 triệu km, gấp 109 lần đường kính của Trái đất, thể tích gấp Trái đất 1,3 triệu lần, trọng lượng gấp 330.000 lần so với Trái đất, mật độ bình quân là 1,4 gram/cm3.


Mặt trời cũng đang tự chuyển động, chu kỳ tự chuyển động trên vùng quỹ đạo bề mặt Mặt trời là khoảng 25 ngày, càng tiếp cận chu kỳ 2 cực thì thời gian càng dài, ở khu 2 cực là khoảng 35 ngày. Nguyên tố phong phú nhất trên Mặt trời là Hiđro, tiếp đó là Heli, ngoài ra còn có cacbon, oxy và các kim loại khác, gần như là giống các nguyên tố hoá học cấu tạo nên Trái đất, chỉ khác nhau về tỉ lệ.

Mặt trời là một quả cầu lớn và rất nóng, tầng ngoài của nó chủ yếu do 3 lớp cấu tạo thành, đó là quang cầu, sắc cầu và quầng sáng bao quanh Mặt trời, những lớp này tạo thành bầu khí quyển của Mặt trời.

Thông thường hình tròn của Mặt trời mà chúng ta nhìn thấy được gọi là quang cầu, nó có độ dày khoảng 500.000 m, ánh sáng Mặt trời chói mắt chính thức là được phát ra từ tầng quang cầu này.

Sắc cầu ở bên ngoài quang cầu, là một tầng ở giữa bầu khí quyển Mặt trời, nó có độ cao kéo dài khoảng vài triệu mét, nhiệt độ từ vài ngàn độ C tăng lên tới vài vạn độ C. Khi xảy ra nguyệt thực toàn phần, tia sáng mạnh phát ra từ quang cầu bị Mặt trăng che khuất, chúng ta sẽ nhìn thấy tầng khí có màu đỏ tối này, vì vậy người ta gọi tầng này là tầng sắc cầu hay sắc cầu. 

Quầng sáng bao quanh Mặt trời là tầng ngoài cùng của bầu khí quyển Mặt trời, tầng này có thể kéo dài bằng vài lần bán kính Mặt trời, thậm chí có lúc còn xa hơn thế. Nó được cấu thành chủ yếu từ các nguyên tử điện ly cao và các điện tử tự do, mật độ rất thưa thớt. Tầng trong của quầng sáng bao quanh Mặt trời còn gọi là nội miên có nhiệt độ tới một triệu độ C. 

Độ lớn và hình dạng của quầng sáng bao quanh Mặt trời có liên quan tới các hoạt động của Mặt trời. Mặt trời hoạt động với chu kỳ lớn, quầng sáng bao quanh Mặt trời có hình tròn, hoạt động nhỏ. Quầng sáng bao quanh Mặt trời teo nhỏ lại ở 2 cực Mặt trời. Độ sáng của nội miện bằng khoảng 1/1.000.000 độ sáng của quang cầu, nó bằng với ánh sáng Mặt trăng vào các tối ngày 15, 16 âm lịch.

Trước đây khi các nhà thiên văn học quan sát các sắc cầu thì ngoài việc quan sát ánh sáng đơn sắc thông thường, họ còn có thể quan sát thời gian nhật thực toàn phần, còn khi quan sát quầng sáng Mặt trời thì trước đây chỉ có thể quan sát khi nhật thực toàn phần, nhưng hiện nay có thể dùng “máy nhật miện” để thường xuyên quan sát. Vài năm gần đây, việc quan sát bằng vệ tinh nhân tạo đã chứng tỏ rằng khí thể quầng sáng bao quanh Mặt trời đang không ngừng khuếch tán ra bên ngoài do nhiệt độ tăng cao, các dòng hạt phun ra hình thành nên gió Mặt trời.


Ngoài ra, ở bên ngoài rìa Mặt trời còn có lớp khí phát ra ánh sáng màu hồng giống như ngọn đuốc, đây gọi là tai lửa Mặt trời. Có lúc nó phóng xạ ra với tốc độ rất lớn, có thể đạt tới tốc độ cao vài trăm ngàn kilômét, sau đó lại rơi xuống tầng sắc cầu. Số lần xuất hiện của sắc nhĩ bằng với hắc tử, mỗi chu kỳ khoảng 11 năm. 

Bình thường chúng ta không nhìn thấy được bằng mắt thường, chỉ có các nhà thiên văn dùng kính viễn vọng sắc cầu hoặc kính phản ánh sáng hay khi nhật thực toàn phần thì mới có thể nhìn thấy nó được.
sotechvn

PHẦN MỀM